TỰ HÀO VIỆT NAM

QPVN

TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN

TÀI NGUYÊN CỦA TÔI-BẠN

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Trần Văn Huy)
  • (Trần Mai Hương)
  • (Trần Minh Đức)
  • (Trần Minh Anh)

LIÊN KẾT WEB

LỜI HAY Ý ĐẸP

BỒ CÂU-CHUỘT

TỰ HÀO VIỆT NAM

QPVN

VIOLET THAM KHẢO

  • Thư viện Bài giảng điện tử
  • Thư viện Giáo án điện tử
  • Thư viện Đề thi và Kiểm tra
  • Thư viện Tư liệu giáo dục
  • Soạn Bài giảng điện tử trực tuyến
  • Thi, Kiểm tra trực tuyến
  • Thư viện Bài giảng e-learning
  • Đào tạo kỹ năng CNTT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LANGUAGE

LIÊN HỆ

LIÊN KẾT WEB GIA LAI

AI ĐANG Ở NHÀ TÔI

1 khách và 0 thành viên

THỐNG KÊ

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • SẮP XẾP DỮ LIỆU

    NGƯỜI THẦY

    Gốc > LIỆT NỮ >

    Nữ tướng Bùi Thị Xuân




    Bùi Thị Xuân (? – 1802) không rõ năm sinh, quê xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, nữ tướng thời Tây Sơn, vợ của danh tướng Trần Quang Diệu. Thuở nhỏ, học võ với Đô thống Ngô Mạnh. Khi khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra (1771), Bùi Thị Xuân cùng Trần Quang Diệu gia nhập nghĩa quân Tây Sơn. Năm 1789, tham gia đánh quân xâm lược nhà Thanh ở trận Ngọc Hồi (Thăng Long).



    Triều Tây Sơn sụp đổ, Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Ánh, bà theo vua Cảnh Thịnh chạy ra Nghệ An, chỉ huy 5.000 quân chặn đánh kịch liệt quân Nguyễn ở lũy Trấn Ninh (Quảng Bình). Tháng 2-1802, quân Nguyễn vượt qua Nhật Lệ (Quảng Bình), đánh bại đội quân phòng ngự của Tây Sơn ở đây.



    Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bỏ Quy Nhơn, theo ngõ thượng đạo ra miền Tây Nghệ An, gặp bà. Hai vợ chồng xuống đến huyện Thanh Chương thì bị quân Nguyễn Ánh bắt đem về Phú Xuân hành hình.



    Theo tư liệu của một giáo sĩ phương Tây De La Bissachère – người có dịp chứng kiến cuộc hành hình – đã miêu tả cái chết lẫm liệt của bà như sau: “Bùi Thị Xuân không hề biến đổi sắc mặt, tiến trước đầu voi một cách bình tĩnh. Mấy tên lính thét la om sòm, bảo bà quỳ xuống, nhưng bà vẫn thản nhiên tiến bước. Voi lùi lại, bọn lính phải lấy giáo nhọn thọc vào đùi voi, con vật mới lấy vòi quặp bà tung lên trời…”.

    Bùi Thị Xuân


    Vua Quang Trung có một bề tôi thân tín, đó là Trần Quang Diệu. Quang Diệu có vợ tên là Bùi Thị Xuân, người phủ Quy Nhơn, thuộc dinh Quảng Nam. Quê Xuân vốn nổi tiếng là đất võ. Không những chỉ đàn ông trai tráng có tài về nghề binh mà đàn bà con gái Bình Ðịnh cũng lắm người hào kiệt. Bởi vậy, mới có câu truyền rằng : 
    “Ai về Bình Ðịnh mà coi 
    Ðàn bà cũng biết cầm roi đi quyền” . 
    Bùi Thị Xuân cũng là bậc hào kiệt như thế. Tướng Diệu mến tiếng mới tìm đến làm quen. Sau lấy làm vợ. Vợ chồng kính trọng nhau như khách, đương thời đến nức nở khen là chuyện đẹp. Trần Quang Diệu theo vua Quang Trung đánh đông dẹp bắc, đi đâu cũng đem bà cùng đi. Từ việc quân cơ mưu lược đến việc cầm quyền cai trị, bà đều trổ sức tận tình, giúp chồng lập được nhiều công lớn. Trần Quang Diệu càng đặc biệt yêu dấu mà nhà vua cũng hết lòng tin cậy. 
    Mùa thu năm Nhâm Tý (1972) vua Quang Trung bị bệnh băng hà. Triều Tây Sơn từ đó ngày một suy yếu. Nguyễn Ánh được bọn tây dương giúp, nhân thế đem đại quân vượt biển ra đánh úp, chiếm mất Quy Nhơn. Lại sai Võ Tánh và Ngô Tòng Chu cùng thống suất mấy vạn binh đắp thành lập đồn cố giữ bằng được. Quy Nhơn là đất căn bản của Tây Sơn cho nên Vua Cảnh Thịnh Quang Toản ( con Quang Trung) vội sai hai danh tướng bậc nhất là Thiếu phó Trần Quang Diệu và Tư đồ Vũ Văn Dũng lập tức gấp đường đem quân thủy bộ vào giành lại. Quang Diệu mới bảo vợ : 
    - Nay quân hùng tướng mạnh đã kéo cả vào Quy Nhơn, nếu quân Gia Ðịnh vượt biển ra xâm phạm, tất Phú Xuân không tránh khỏi nguy biến. Nàng hãy ở lại kinh thành hộ giá, ngộ khi việc nước quan hệ, còn có người đỡ đần chúa thượng. 
    Bùi Thị Xuân khóc mà vâng lời. Trần Quang Diệu liền từ biệt vợ, dẫn quân bộ lên đường hợp với quân thủy của Vũ Văn Dũng tiến vào Quy Nhơn. Quân của Diệu, Dũng vây hãm ráo riết, song bọn Tánh, Chu liều mạng thúc quân cố thủ nên đánh liền mấy tháng vẫn không ngã ngũ. Nguyễn Ánh biết đại quân Tây Sơn ở cả Quy Nhơn bèn dốc hết quân thủy và hơn 1.000 chiến thuyền bất ngờ ra đánh lén Phú Xuân. Bùi Thị Xuân cùng với Vua Quang Toản và phò mã Trị ra sức chống cự, nhưng tình thế mỗi lúc một bức bách. Xuân mới tâu vua : 
    - Thế giặc quá mạnh. Xin Chúa thượng hãy tạm lui quân ra Bắc Hà. Trước hãy hạ dụ vỗ về quân dân các trấn chỉnh đốn đội ngũ, sau sẽ gọi đại binh ở Quy Nhơn ra, hai mặt cùng đánh tất lấy lại được thành. 
    Nhà vua nghe theo. Bây giờ là vào tháng ba năm Tân Dậu (1801). 
    Năm sau, Trần Quang Diệu hạ được thành Quy Nhơn liền kéo quân ra Phú Xuân. Bùi Thị Xuân cũng hộ giá vua Quang Toản thống suất quân thủy bộ và tượng binh bốn trấn ở Bắc Hà và Thanh Nghệ tiến vào cùng đánh. Chẳng ngờ, quân Trần Quang Diệu bị chẹn lại, không qua được đèo Hải Vân. Nguyên từ năm trước quân Gia Ðịnh đã lo xa nên đặt đồn cắm trại rất kiên cố để phòng bị, nay lại liều chết chống giữ. Trần Quang Diệu đành phải đem quân voi dọn núi mở đường đi sang biên giới Ai Lao, vòng ra Nghệ An hợp với quân vua. Bấy giờ, ba vạn quân nhà vua cũng đang bị quân Gia Ðịnh đóng tại hai lũy thành Trấn Ninh và Ðầu Mậu ở Sông Gianh (Quảng Bình Cũ) cản lại. Biết đây là chỗ hiểm yếu, lâu nay Nguyễn Ánh đã thúc quân đắp thành cao, đào hào sâu. Lại đặt nhiều đại bác tối tân của người Tây Dương giúp và sắp sẵn gỗ đá trên mặt thành để cự chiến. Bùi Thị Xuân bèn xin lĩnh năm nghìn quân tiến lên công thành, để quân Thủy vòng phía sau đánh tạt lại. 
    Từ trên thành cao, quân Gia Ðịnh bắn súng đại bác xuống ầm ầm. Quân Bùi Thị Xuân lấy gỗ ván bện rơm dấp nước làm khiên che, lăn xả vào chân thành bắc thang leo lên. Quân Gia Ðịnh vội đổ dầu sôi, tung chất cháy và lăn gỗ đá xuống như mưa khiến quân Bùi Thị Xuân thiệt hại to. Mấy lần bám lên được mặt thành, sau đều bị đánh lui, người ngựa chết nhiều. Vua Quang Toản lo lắm, có ý định lui. Bùi Thị Xuân nhất định không rời trận địa, cho người chạy đến can ngăn. 
    - Nước nhà còn mất là ở trận này. Bệ hạ chớ vì thấy bất lợi mà ngã lòng. Dẫu chết cũng xin quyết tử chiến ! 
    Bà cưỡi voi đi đầu, thúc quân sĩ tràn lên đánh thành; từ sáng đến trưa vẫn trổ sức chiến đấu, không hề mệt mỏi. Quân sĩ được chủ tướng cổ suý đều dốc hăng hái. Người trước ngã người sau vẫn điềm nhiên xông tới, không một ai lui cả. Ðến chiều tối, quân trong thành Trần Ninh, Ðầu Mâu đã núng. Bất ngờ tin cánh thủy binh đã bị quân Gia Ðịnh đánh tan bay đến, khiến quân Tây Sơn hoang mang tan vỡ. Bùi thị Xuân ra sức chỉnh đốn, song không lại. Vua Quang Toản vội rút chạy ra Thăng Long, để Bùi Thị Xuân ở lại Nghệ An, cản giặc và đợi hợp binh với chồng. Chẳng dè, quân Gia Ðịnh thừa thắng đánh tràn. Quân ít thế nguy, bà đành chịu sa vào tay giặc cùng với hai con. Trần Quang Diệu không kịp hồi quân, sau cũng bị bắt nốt. 
    Nguyễn Ánh điệu cả hai vợ chồng và hai con bà về thành Phú Xuân hành hình để trả thù. Ánh cho giải hai vợ chồng đến trước mặt kể tội “phản nghịch” rồi bắt lạy. Hai vợ chồng không lạy. Ánh sai lính lấy hèo đánh vào khuỷu chân, níu tóc giập đầu xuống đất bắt lạy. Hai vợ chồng nhất định không chịu. Ánh uất quá cho voi dữ ra giày xéo quật chết cả hai con bà cho trông thấy, để ra uy. Lại lôi Trần Quang Diệu ra xẻo từng miếng thịt. Tình cảnh cực kỳ thảm thương, tàn bạo hết mức. Cho đến khi bị Ánh giết, trước sau bà vẫn ung dung, mặt không hề biến sắc. Bà mất đi, xa gần nghe chuyện trong lòng đều thương xót, ai cũng hết lời ngợi khen. 


     
     


    Bùi Thị Xuân





    Nữ kiệt triều Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, cháu thái sư Bùi Đắc Tuyên, quê làng Xuân Hòa, huyện Bình Khuê, tỉnh Bình Định.

    Bà là vị anh thư đã cùng chồng hết lòng hết sức giúp nghĩa quân Tây Sơn chống nhau với quân Nguyễn ánh hơn 10 năm, chiến đấu cực kỳ dũng cảm.

    Tháng giêng năm Nhâm Tuất 1802 bà chỉ huy 500 quân thuộc hạ góp mặt trong trận đánh Lũy Trấn Ninh , dưới quyền vị Thống lãnh chư quân là Nguyễn Quang Thùy, và vị Tư lệnh cánh quân tiên phong là Nguyễn Văn Kiên.

    Trong trận này bà tấn công địch quyết liệt, khiến quân Nguyễn Ánh hết sức khiếp sợ.

    Sang tháng 3, sau mấy phen cùng chồng lo chiêu quân để toan gầy dựng lại nghiệp Tây Sơn đã nghiêng đổ, hai vợ chồng đều bị bắt tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, rồi bị đem hành hình.

    Về cái chế của bà, theo Thiên Nam nhân vật chí và hầu hết các tư liệu khác đều dựa vào đấy mà cho bà bị lăng trì, đốt cháy cả thi hài. Lại có thuyết, theo tư liệu của giáo sĩ De La Bissachère, bà và người con gái bị hành hình bằng cách cho voi dày ngựa xé, và bà đã tỏ ra can đảm phi thường trước sự trả thù tàn bạo và vô nhân đạo ấy của Nguyễn Ánh. Trước khi bà ra hành hình, bà quấn quanh người nhiều lớp vải giữ chặc thân thể.

    Hiện nay, dãy gò Xuân Hòa là nơi bà tập luyện đàn voi chiến, mặc dù đã bị phá vỡ thành ruộng, song vẫn còn di tích.

    Công luận bình phẩm, hầu hết đều khen ngợi oai danh và tiết tháo của bà.

    Người đời sau có vịnh thơ:

    Vận nước đang xoay chuyển
    Quần thoa cũng vẫy vùng
    Liều thân lo cứu chúa
    Công trận quyết thay chồng.
    Khảng khái khi lâm nạn!
    Kiên trinh lúc khốn cùng
    Ngàn thu gương nữ liệt
    Gương sáng hãy soi chung
    .



    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Văn Huy @ 12:39 29/04/2012
    Số lượt xem: 852
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến